| Kỷ niệm 34 năm ngày giải phóng miền Nam: Theo cánh quân đánh chiếm “Dinh độc lập” |
|
|
| Nguyễn Thái An – Bùi Xuân Vinh/ Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt nam | ||
| 29/04/2009 | ||
Sau 3 ngày vượt qua Chi khu Long Thành, căn cứ Nước Trong, Trường thiết giáp, khoảng 18 h chiều 29/4, chúng tôi đến ngã ba xa lộ Biên Hoà - Vũng Tàu. Bỗng đâu, từ trong đám cỏ lau, một người lính vác súng B40 chĩa vào xe chúng tôi và hô to “Hồ Chí Minh”, chúng tôi vội đáp “Muôn năm !”. Nghe đúng mật khẩu, các anh hạ súng bước ra và cho biết là lính đặc công đang chốt giữ quanh cầu Đồng Nai, tưởng là xe tăng ngụy quân chạy rút về. Nếu chúng tôi không trả lời nhanh thì “toi rồi”! Khoảng 18h30, chắc địch phát hiện xe tăng quân Giải phóng đã đến, một trận pháo dàn bắn vào đội hình chúng tôi mà không thể nào phân biệt được tiếng nổ trước sau, mảnh pháo cứ xoèn xoẹt, phầm phập xung quanh. “Trúng thì chết ! không thì thôi”, cũng may sau dãy nhà đối diện với cổng căn cứ Long Bình có một con suối cạn, vách đứng, chúng tôi bò lết dần và núp an toàn dưới bờ suối. Duy có anh L. (quê Hà Tĩnh) kẹt nằm lại trên đường nhựa, dưới gầm chiếc ôtô “Giải Phóng”. Pháo bắn làm chiếc ôtô chuyển động, bánh xe chèn kẹp vào chân anh, khi chúng tôi đẩy được xe ra thì 2 bàn chân anh đã bị dập toác! Mờ sáng ngày 30/4, chúng tôi được lệnh xuất kích chiếm cầu Đồng Nai. Mỗi người đeo 1 băng vải đỏ ở tay trái, với chỉ thị: “Xe bị hư đánh bật xe đi để thông đường, thương binh tử sĩ để lại tuyến sau lo; tất cả ai còn thì xông lên! Qua hai cầu lớn, rẽ trái qua 7 ngã tư là đến Dinh Độc Lập”. Mới đến gần cầu Đồng Nai, chiếc xe tăng đi đầu đã bị bắn chặn: một chớp lửa bùng lên, khói đen trùm kín cả xe. Chúng tôi đi xe sau, thấy anh em mình bị tung lên rồi lao xuống như những mũi tên! Chúng tôi lao đến, thấy anh Đưởng (quê Nam Hà), người mềm nhũn, nhuộm đen thuốc súng, máu từ mũi, lỗ tai chảy ra…chắc tưởng đã chết. Đặt anh lên vệ cỏ, giao lại cho cứu thương, chúng tôi lại tiếp tục lên xe, đánh chiếm cầu… (Thế mà đến gần Tết năm 1976, lại thấy anh từ trại thương binh lò dò về thăm đơn vị, mừng không tả nổi). Một chiếc xe tăng của ta lao trườn lên “con lươn” xa lộ, bụng xe bị đội lên, một bên bánh xích hếch, quay tít mà xe không chạy được. Mặc cho đạn bắn tứ tung, chúng tôi bắn hỗ trợ để cho đồng đội nhảy xuống ốp bộc phá đòn cho nổ vỡ “con lươn”, mới “giải thoát ” được cho xe tăng. Khi đoàn xe tăng qua được cầu Đồng Nai, đến quãng ngã tư Thủ Đức thì đuổi kịp một đoàn xe pháo của ngụy đang rút chạy về Sài Gòn; thế là súng 12 ly 7 trên xe tăng, súng bộ binh của mình truy quét… Chúng kháng cự yếu ớt và bỏ chạy tán loạn. Đến đầu cầu Sài Gòn, chúng tôi lại bị chặn lại, súng nổ rất rát. Đồng đội trong Tiểu đội tôi là em Trang (quê Hải Phòng), anh Hải (quê Nam Hà) lần lượt hy sinh. Chúng tôi để các anh nằm lại trong một chòi lá ven đường. Cậu Trang – lính 1974, trắng trẻo đẹp trai, còn quá trẻ; còn anh Hải có kể với tôi là anh mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống với ông anh, anh rất hiền và đa cảm lắm! Đến khoảng 9h30, Đài phát thanh Sài Sòn truyền lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh “quân đội ở đâu ở đó” để đàm phán, thì lính ngụy vứt bỏ súng ống, quân phục, cứ “xà lỏn cởi trần” trốn hết. Xe chúng tôi qua cầu, đang chạy dò trên đường thì có một người mặc thường phục ra hiệu, nhảy lên xe nhận dẫn đường đến Dinh Độc Lập. Anh nói nhỏ với tôi, anh là biệt động thành (quê Thái Bình) vào Nam từ năm 1961. Chuyện xe tăng Lữ đoàn 203 chiếm Dinh Độc Lập thì sách vở, phim ảnh đã miêu tả nhiều rồi, chúng tôi chỉ muốn ghi lại vài kỷ niệm riêng trước khi chia tay với anh biệt động dẫn đường, chúng tôi đưa cho anh miếng lương khô 702 cuối cùng và nói: tụi em từ hôm 26 đến nay chỉ ăn lương khô, đây là loại lương khô đen cao cấp, anh ăn cứ như kẹo sô cô la. Trước cổng Dinh, một đám đông phóng viên các hãng thông tấn nước ngoài, râu tóc bờm xờm, lỉnh kỉnh nào máy ghi âm, micro, máy ảnh... vây quanh. Chúng tôi chỉ vào vết xích xe tăng cán thành vệt dài trên thảm cỏ xanh trong sân và gợi ý anh phóng viên nước ngoài ghi lại. Anh đồng ý gật đầu và giương máy bấm lia lịa. Chúng tôi cùng một chiến sỹ vào Dinh, đèn chùm sáng trưng. Lúc này toàn bộ nội các Dương Văn Minh đứng trong phòng họp nhỏ, tôi đảo mắt nhìn thấy nhiều người mặc comple, cà vạt cẩn thận. Khoảng 12h, có mấy tiếng pháo nổ lớn ngoài Dinh, rồi nghe tiếng súng bắn ào ào…không biết ai hô “ Quân ngụy bên Bộ Tổng tham mưu tái chiếm!”. Chúng tôi cùng mấy anh em triển khai quanh mấy gốc cây cổ thụ và dưới gầm xe tăng, nhưng nghe chỉ toàn tiếng súng 12 ly 7 và súng AK. Bắn một chập rồi im, hóa ra giờ này cánh Quân đoàn IV mới vào. Sau này tôi mới biết, Bộ Tư lệnh giao nhiệm vụ cắm cờ Dinh Độc lập cho Quân đoàn IV, nhưng hướng tiến quân theo quốc lộ 1 rất ác liệt (quãng Trảng Bom, Hố Nai ), nên vào sau Quân đoàn II. Khoảng 13h có chiếc xe jeep chở mấy “anh giải phóng” là phóng viên Báo Quân đội nhân dân, các anh nói xe sẽ chạy liên tục ra Hà Nội cho kịp đưa tin, anh em nào quê ở miền Bắc thì viết thư, chúng tôi mang ra Bắc gửi bưu điện cho. Tôi cắt vội lấy mảnh giấy gói bộc phá ghi địa chỉ nhà gấp lại, mặt sau ghi: “Mặt trận thắng đến đâu. Con vào sâu đến đó… Dẫu chân đạp trăm đường. Con nhìn quê vẫn rõ…Chiến tranh là tàn khốc, đời diễn cảnh tang thương. Hẹn gì cùng non nước, là tuổi em ở trường…”. Lá thư viết tại Dinh Độc Lập, không tem, không có phong bì, sau này biết ở nhà vẫn nhận được. Chiều 30/4, chúng tôi chẻ củi, bắc bếp cạnh bồn nước lớn giữa sân cỏ trong Dinh, nấu cơm, bụng đói mà lòng cứ lâng lâng không muốn ăn nhiều. Ngủ lại một đêm trong khuôn viên của Dinh, khoảng 14h hôm sau, chúng tôi rút ra. Đường phố lúc này kẹt cứng người và xe di tản trở về. Mãi sẩm tối, chúng tôi mới về tới căn cứ Long Bình. 34 năm trôi qua, chúng tôi chưa gặp lại hết những người đồng đội cũ. Nay viết mấy dòng này, vừa như là gửi lời thăm mừng những người đang sống, vừa như là một nén nhang viếng những người đã nằm lại ở của ngõ phía Đông thành phố Sài Gòn năm 34 năm ấy. Các tin khác:
|
||
| < Trước | Tiếp > |
|---|