Tin tức
Công nghệ thông tin
Một số quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất | Một số quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất |
|
|
| Nguyễn Văn Vui, Văn phòng Sở TNMT | ||
| 26/12/2011 | ||
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước, là địa bàn phân bổ các khu dân cư. Chính do tầm quan trọng đó mà tại điều 5 Luật Đất đai năm 2003 đã quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Các quy định về quản lý và sử dụng đất đã được quy định cụ thể trong Luật Đất đai và các văn bản luật khác có liên quan. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin giới thiệu một số quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được quy định trong Luật Đất đai năm 2003 để quý độc giả nghiên cứu, tìm hiểu. Một trong những quyền cơ bản nhất của người sử dụng đất đó là được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đây là chứng thư pháp lý để người sử dụng đất thực hiện các quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó thì người sử dụng đất còn được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao; Được hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; Được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình; Được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai. Ngoài ra, người sử dụng đất còn được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây: Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Đất không có tranh chấp; Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; Trong thời hạn sử dụng đất. Bên cạnh các quyền, thì người sử dụng đất còn phải thực hiện các nghĩa vụ như: Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất; Đăng ký quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất hoặc khi hết thời hạn sử dụng đất… Tuy nhiên, đây chỉ là các quyền và nghĩa vụ chung của người sử dụng đất, tuỳ theo từng đối tượng sử dụng đất mà họ có các quyền và nghĩa vụ khác nhau. Cụ thể như: - Đối với tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất thì không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Riêng đối với tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có các quyền: Chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công trình kiến trúc, kết cấu hạ tầng đã được xây dựng gắn liền với đất; Tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, tặng cho quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, tặng cho nhà tình nghĩa gắn liền với đất theo quy định của pháp luật… - Điều 117 Luật Đất đai cũng đã quy định rõ: “các cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư sử dụng đất không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sử dụng đất; không được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.” - Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê có các quyền và nghĩa vụ sau: Chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân khác; Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trừ trường hợp chuyển nhượng có điều kiện theo quy định của Chính phủ; Cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê quyền sử dụng đất; Tặng cho quyền sử dụng đất; Thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật; Thế chấp, góp vốn, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó Điều 121 Luật Đất đai có quy định: “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây thì được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam: + Người về đầu tư lâu dài có nhu cầu nhà ở trong thời gian đầu tư tại Việt Nam; + Người có công đóng góp với đất nước; + Những nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước; + Người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam.” Ngoài ra tại khoản 5 Điều 113 Luật Đất đai cũng có quy định: “ Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật. Trường hợp người được thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật Đất đai thì được nhận thừa kế quyền sử dụng đất; nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật Đất đai thì được hưởng giá trị của phần thừa kế đó” Trên đây chỉ là một số quyền và nghĩa vụ cơ bản của người sử dụng đất được quy định trong Luật Đất đai, để các quy định nêu trên đi vào cuộc sống thì ngoài việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật của các cơ quan nhà nước, đòi hỏi mỗi tổ chức, mỗi công dân phải nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật nói chung, Luật Đất đai nói riêng. Có như vậy thì việc thi hành pháp luật đất đai mới đạt kết quả cao hơn./. Các tin khác:
|
||
| < Trước | Tiếp > |
|---|